Tôi không biết nhiều về chụp ảnh, nhưng trong khi lặn bắn cá tôi có sử dụng máy ảnh và camera để ghi lại những gì mình thích. Những gì tôi viết trong bài này chắc sẽ thiếu sót rất nhiều mong các bạn thông cảm. Nội dung bài viết tập trung vào những vấn đề cần lưu ý khi chụp ảnh dưới nước, còn những kỹ thuật về chụp ảnh nói chung mong các bạn tìm hiểu ở các tài liệu khác.

Trước khi trở thành một nhà nhiếp ảnh hoặc quay phim dưới nước trước hết bạn phải trở thành một thợ lặn. Để lặn chụp ảnh và quay phim dưới nước có thể có hai tiêu chí để phân biệt, lặn với thiết bị và lặn tự do.

Lặn quay phim chụp ảnh với thiết bị lặn

Lặn với thiết bị lặn là lặn với bình dưỡng khí, với các thiết bị này bạn có thể lặn được sâu hơn, lâu hơn và do đó bạn có nhiều thời gian để lựa chọn góc quay, cảnh quay .v.v. Các nhà nhiếp ảnh và làm phim chuyên nghiệp thường dùng phương thức này. Để thuần thục kỹ thuật lặn này bạn phải qua các lớp học lặn được các huấn luyện viên chuyên nghiệp hướng dẫn và phải qua một số giờ lặn tối thiểu (thường là 50 giờ). Qua các lớp học này bạn sẽ làm chủ được độ nổi của mình trong nước, học cách đập chân nhái để không ảnh hưởng tới tới xung quanh (không làm bùn quấn lên), định hướng trong nước và sử dụng các thiết bị lặn. Với quay phim và chụp ảnh dưới nước người ta thường sử dụng thiết bị lặn “tái tạo ôxy” để không tạo ra các bong bóng trong nước.

Lặn tự do chụp ảnh

Lặn tự do, cũng có một số nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp chuyên thực hiện các bức ảnh dưới nước bằng cách lặn tự do nhưng số đó không nhiều do hạn chế về độ sâu và đặc biệt là về thời gian dưới nước. Phần lớn các nhà nhiếp ảnh nghiệp dư thường chụp ảnh và quay video dưới nước bằng cách lặn tự do. Ưu điểm của phương pháp này là ai cũng có thể thực hiện được. Bạn chỉ cần một cái máy ảnh có thể hoạt động được dưới nước, một cái ống thở và một cái kính lặn là bạn có thể quay và chụp dưới nước. Tuy nhiên để có thể có được các bức ảnh đẹp và có ấn tượng tốt thì bạn vẫn phải rèn luyện kỹ năng lặn của mình, các kỹ năng lặn tự do được giới thiệu trong các bài: Kỹ thuật sử dụng chân nhái, Các động tác kỹ thuật khác các bạn có thể tham khảo thêm. Lặn bắn cá cũng dùng phương pháp này để quay video và chụp ảnh dưới nước.

Để một bức ảnh thành công, cảm biến camera phải nhận đủ ánh sáng. Đó là sự kết hợp hài hoà của ba thông số người ta gọi là độ phơi sáng:

Các thông số chính của máy ảnh.



Khẩu độ ống kính: là độ mở của ống kính để ánh sáng đi qua, thường được ký hiệu như f/1.2, f/1.4……
Tốc độ của màn chập: là thời gian mở của ống kính.
Độ nhạy của cảm biến: phụ thuộc nhiều vào chế tạo của máy.

Ba thông số này có thể được điều chỉnh tự động hoặc được người chụp điều chỉnh theo kinh nghiệm. Xem thêm: Cài đặt độ phơi sáng khi chụp ảnh dưới nước

Khẩu độ ống kính

Việc lựa chọn khẩu độ ống kính sẽ ảnh hưởng đến độ sâu của trường ảnh. Khẩu độ càng lớn, độ sâu của trường ảnh càng ít và ngược lại.

Độ sâu của ảnh (PDC) là vùng sắc nét của ảnh. Với độ sâu của ảnh thấp bức ảnh sẽ có tiền cảnh sẽ bị mờ và hậu cảnh cũng mờ.

Độ sâu của trường ảnh thấp. Ảnh của pexels

Đối với ảnh phong cảnh, người ta thường muốn độ sâu của ảnh lớn để lấy nét tất cả phong cảnh, người ta thường chọn khẩu độ f/11 đến f/16 hoặc lớn hơn.

Khẩu độ ống kính là con số phía sau chữ “f”.

Với hai khẩu độ liền nhau, khẩu độ có con số sau chữ “f” nhỏ hơn sẽ cho ánh sáng đi qua nhiều gấp đôi khẩu độ có con số lớn hơn. Ví dụ khẩu độ f/5.6 cho ánh sáng đi qua nhiều gấp đôi khẩu độ f/8.

Nếu con số càng nhỏ có nghĩa là ống kính mở càng lớn và ngược lại. Lưu ý là, giảm khẩu độ đi một giá trị sẽ làm giảm đi một nửa ánh sáng.

Tốc độ màn chập

Thời gian mở của ống kính phụ thuộc vào tốc độ của màn trập.

Tốc độ của màn trập càng cao, cảm biến sẽ nhận được càng ít ánh sáng hơn do đó, cần phải bù lại bằng cách chọn ống kính mở lớn hơn hoặc chọn cảm biến có độ nhạy cao hơn.

Với thời gian mở của ống kính dưới 1/60 của một giây đối với ống kính bình thường, chụp không có thiết bị cố định máy có nhiều khả năng có được một hình ảnh mờ. Nếu chúng ta sử dụng zoom thì khả năng bị mờ còn cao hơn.

Lý do làm mờ có thể do hai nguyên nhân, do không cố định được máy khi chụp lý do không cố định được máy có thể do cầm máy không vững, tạo nên động tác giật khi bấm máy, không cố định được độ nổi của cơ thể do sự di chuyển của nước hoặc là chụp khi đang di chuyển, nguyên nhân khác đó chính là do sự di chuyển của chính đối tượng mà bạn chụp. Với chụp ảnh dưới nước, tốc độ của màn chập tối thiểu phải là 1/100 giây.

Để ghi lại bức ảnh này phải sử dụng tốc độ cao

Nếu bạn muốn chụp một con cá đang di chuyển, ví dụ như một chú cá hề tốc độ nhanh thì tốc độ phải chọn là 1/250 của một giây, hoặc thậm chí nhanh hơn.

Độ nhạy của cảm biến

Độ nhạy được đo bằng ISO. Con số càng cao, nhu cầu về ánh sáng sẽ càng ít.
Các chỉ số độ nhạy tuân theo một loạt bội số của hai bắt đầu từ 25 (25, 50, 100, 200, 400, 800, 1600, 3200). Với độ nhạy là ISO 200, sẽ có độ nhạy gấp đôi so với ISO 100. Điều này có nghĩa là bạn có thể tăng gấp đôi tốc độ màn trập trong khi vẫn giữ cùng một khẩu độ ống kính.
Tương tự, nếu bạn cần chụp ảnh trong điều kiện ánh sáng yếu, bạn sẽ cần chọn cả khẩu độ lớn và độ nhạy cao.
Trên máy ảnh kỹ thuật số, độ nhạy được mô phỏng điện tử. Đại đa số, các cảm biến được thiết kế với độ nhạy danh nghĩa là ISO 100 hoặc 200. Để tạo ra ISO 400, thông tin ánh sáng được ghi sẽ được khếch đại lên, sự khuếch đại này cũng khuếch đại cả những thứ không cần thiết tạo ra “nhiễu kỹ thuật số”. Các nhiễu này được cụ thể hoá bằng pixel màu.

Kết luận:

Luôn phải kết hợp hài hoà giữa ba yếu tố:
Để tăng phơi sáng

Chúng tôi tăng khẩu độ, nhưng độ sâu của trường ảnh giảm

Chúng tôi giảm tốc độ, nhưng ảnh chuyển động sẽ không có nét

Chúng tôi tăng độ nhạy, nhưng chúng tôi sẽ có một bức ảnh quá nhiều nhiễu

Sự khác nhau giữa chụp trên đất và dưới biển.

Ánh sáng:
• Trên mặt đất ánh sáng là ánh sáng mặt trời. Biểu hiện này rất rõ khi mặt trời xuống thấp.
• Nước hấp thụ ánh sáng. Biểu hiện này càng rõ khi càng xuống sâu.

Màu sắc:

Ánh sáng mặt trời mà chúng ta trông thấy là màu trắng thực sự được tạo thành từ một
vô số màu sắc. Các màu này bị hấp thụ theo nhiều cách không giống nhau khi xuống nước. Các màu đỏ biến mất trước, theo sau vàng, xanh lá cây và xanh lam. Các màu không chỉ xảy ra mất theo chiều dọc mà còn mất theo chiều ngang do khúc xạ.

Khoảng cách:

Điều kiện dưới nước làm cho khoảng cách nhìn như gần hơn. Một vật thể nhìn như cách đó 3m nhưng thực sự cách đó 4m. Đừng quên chi tiết này khi bạn sử dụng đèn flash dưới nước và khi bạn ước lượng khoảng cách khi hoạt động dưới nước. Qúa chăm chú vào màn hình của máy và không ước lượng chính xác khoảng cách bạn có thể làm xước vỏ máy ở vị trí ống kính, nhất là khi chụp cận cảnh.

Các vật thể huyền phù:

Tuỳ theo tình trạng của nước mà trong nước có rất nhiều có các vật thể trôi nổi, như cát, bụi, tảo, các ấu trùng, v.v. Khi chụp nên giảm độ tương phản, giảm độ trong cũng như giảm độ sáng.

Điều kiện khi chụp:

Khác với trên mặt đất, chụp dưới nước trong điều kiện vừa chụp vừa bơi lội, vừa phải cảnh giác với các nguy hiểm xung quanh. Rất khó có điều kiện cố định máy chụp. Trước khi là một người chụp ảnh hay quay phim dưới nước trước hết bạn phải là một thợ lặn. Bạn phải làm chủ được độ nổi của mình trong nước, học được cách di chuyển không làm bùn ở đáy cuộn lên, cũng không gây nên sự kinh sợ của đối tượng. Với đại đa số các nhiếp ảnh gia và những người quay phim dưới nước đều lặn với bình dưỡng khí, việc kiểm soát độ nổi và thận trọng tiến lại gần đối tượng sẽ dễ dàng hơn vì họ có thời gian. Với lặn bắn cá, việc ghi lại một khoảng khắc thường chỉ diễn ra trong một lần nhịn thở vì vậy các kỹ năng càng đòi hỏi cao hơn.

Máy ảnh:

Các máy móc, thiết bị chụp, quay dưới nước hầu hết là các máy móc dùng để chụp, quay trên cạn chỉ thêm vỏ bảo vệ để dùng dưới nước. Chính vì vậy khi sử dụng và công tác bảo trì sau khi sử dụng rất quan trọng, chỉ một sơ xuất nhỏ có thể dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng. Với các nhiếp ảnh gia, các nhà quay phim dưới nước chuyên nghiệp thường có xu hướng lựa chọn các máy ảnh lớn, có hộp chống nước, có nhiều chức năng, hộp chống nước được gắn trên giá có gắn đèn pha hoặc đèn flash. Mục đích của họ là săn lùng được những hình ảnh chất lượng nhất phục vụ cho chủ đề của họ. Với lặn bắn cá, có xu hướng lưạ chọn những thiết bị nhỏ (có thể gắn trên súng, trán, tay) như các camera hành động (Go-Sport, Paralenz) nhằm không quá cản trở thú vui lặn bắn cá và mục đích là ghi lại những gì mà họ cảm thấy đáng ghi lại. Các thiết bị này thường được cài đặt ở chế độ tự động.

Các chức năng của máy ảnh có thể sử dụng dưới nước

Các chức năng nâng cao: đều có thể sử dụng khi chụp dưới nước.

Chức năng Av: Ưu tiên cho khẩu độ ống kính.

Chức năng Tv: Ưu tiên cho tốc độ.

Chức năng P: chức năng phơi sáng tự động.

Chức năng M: Phơi sáng bằng tay.

Các chức năng khác:

Chức năng automatique: đây là chức năng thường sử dụng nhất đối với các bạn chụp ảnh nghiệp dư, các bạn chỉ muốn ghi lại một khoảng khắc dưới nước như khi lặn bắn cá chẳng hạn. Chức năng này đơn giản dễ sử dụng, quan trọng nhất là nhanh chóng ghi lại được khoảng khắc vừa đến với chất lượng ảnh không đến nỗi tồi.

Chức năng macro: đây là chức năng chụp gần, chức năng này cũng rất hay được sử dụng đối với các bạn muốn ghi lại những sinh vật kỳ quái dưới biển. Khi áp dụng chức năng này phải lưu ý tới khoảng cách vì khoảng cách mà bạn ước lượng dưới nước và trên cạn khác nhau.

Chức năng paysage: là chức năng chụp phong cảnh, chức năng này không được áp dụng khi chụp dưới nước do tầm nhìn dưới nước luôn luôn kém rất xa ở trên cạn. Người ta dùng chế độ automatique để chụp phong cảnh dưới nước.

Chức năng portrait: là chức năng chụp chân dung, chức năng này cũng không sử dụng khi chụp dưới nước.

Chức năng nuit/obscurité: là chức năng chụp trong bóng tối, chức năng này không sử dụng dưới nước vì ở dưới nước ánh sáng rất yếu.

Chức năng sans flash: sử dụng chức năng này khi tắt flash.

Chức năng sport: là chức năng chụp với tốc độ nhanh, thích hợp để ghi nhận những khoảng khắc của một hành động, của một vật đang di chuyển. Chức năng này có thể sử dụng tuỳ theo yêu cầu, tuy nhiên với lặn bắn cá thì luôn luôn sử dụng.

Chức năng “A-DEP”: là chức năng tự động điều chỉnh độ sâu của ảnh, chức năng này không sử dụng khi chụp dưới nước vì không có tác dụng gì.

Chức năng “video”: luôn luôn có thể sử dụng dưới nước.

Cân bằng trắng

Nước hấp thụ các màu khác nhau tạo nên ánh sáng trắng theo những cách khác nhau ở trong nước. Màu đỏ được hấp thụ nhiều hơn so với màu xanh lam, mang lại màu xanh cho cảnh quan dưới nước. Nếu chúng ta không chỉnh sửa, màu xanh lam sẽ hiện nhiều hơn trên các bức ảnh.

Làm thế nào để giảm bớt sự gia tăng của màu xanh trên các bức ảnh này:

Bằng cách chụp càng gần càng tốt, khoảng cách chụp không nên quá xa hơn 3m.

Bằng cách sử dụng ánh sáng nhân tạo như đèn pha hoặc đèn flash.

Bằng cách thêm bộ lọc màu đỏ trước ống kính. Các bộ lọc này có thể bổ xung thêm màu đỏ để có sự cân bằng màu nhưng cũng vì nó mà sẽ giảm độ sáng mà cảm biến nhận được.

Với các máy ảnh (và các thiết bị) số có chức năng tự động cân chỉnh cân bằng trắng, bật chức năng này cũng có tác dụng tương tự.

Cân bằng trắng là quá trình điều chỉnh màu sắc để cho màu trắng trên ảnh giống như màu trắng trên thực tế. Khi chụp dưới nước màu trắng có thể bị nhiễm một chút màu (thường là màu xanh) khi sử dụng chức năng này có thể khắc phục được tình trạng này. Nó có tác dụng tương tự khi chụp gần hoặc chụp khi có đèn.

Các phần mềm sử lý ảnh hậu kỳ cũng xử lý được tình trạng này.

Giảm bớt màu xanh lá cây để thực hiện cân bằng trắng

Lưu ý khi chụp ảnh dưới nước

Trước khi xuống nước và trong lúc không sử dụng phải làm khô và chống ẩm cho máy. Lau khô và đặt trong túi có silicat hút ẩm để máy ảnh không bị ẩm. Tất nhiên pin phải sạc đầy và bộ nhớ phải đủ lớn cho buổi lặn.

Đưa máy ảnh xuống nước từ từ, không nên cầm máy ảnh nhảy vào nước, áp lực cơ học do va chạm với nước có thể làm cho nước lọt vào máy ảnh (lọt vào hộp chống nước).

Không đi bộ dưới đáy biển (dẫm chân xuống cát) làm cát, bùn, các vật trầm tích nổi lên làm nước đục và xuất hiện các hạt huyền phù trên ảnh. Ngoài ra bạn có thể làm tổn thương môi trường như: đạp gãy san hô, đạp nát rong biển, làm chết một số loài giáp xác và có vỏ, . . .

Nín thở thực tốt khi chụp: các bong bóng thổi ra khi bạn không nín thở tốt có thể làm các con cá bạn định chụp hoảng sợ bỏ chạy. Trừ khi bạn muốn tạo thêm các hiệu ứng bong bóng khi chụp và quay video. Nín thở cũng làm cho động tác chụp của bạn ổn định hơn. Để giảm thiểu độ rung, lắc của máy ảnh khi chụp bằng cách giữ máy bằng cả hai tay, đồng thời hai khuỷ tay ép sát vào cơ thể.

An toàn: một nhiếp ảnh gia dưới nước trước hết là một thợ lặn, trước hết phải ưu tiên cho an toàn lặn của mình. Cẩn thận với những nguy hiểm khi lặn: ngất, trấn thương tai, xoang do áp xuất (xem thêm: Những nguy hiểm trong môn thể thao lặn bắn cá; Những động vật nguy hiểm khi lặn ở Guadeloupe). Tốt nhất là lặn theo cặp, dù đồng đội không phải là một nhiếp ảnh gia.

Lựa chọn chủ đề và đối tượng

Chủ đề: có rất nhiều chủ đề dưới nước đáng giá để chụp như các sinh vật biển, phong cảnh và cuộc sống dưới biển, sự ngoạn mục của các tia sáng mặt trời khi xuyên xuống nước, các bức ảnh chụp cận cảnh (macro), xác tầu đắm, các thợ lặn và đặc biệt là các khoảng khắc của cuộc săn. Nhưng luôn luôn phải lưu ý tới các hạn chế khi chụp dưới nước như: điều kiện ánh sáng, độ trong của nước.

Có một số quy tắc khi lựa chọn chủ đề:

Tránh quá tập trung vào chủ đề chính

Tránh quá tập trung vào một chủ đề chính: nên để một khung cảnh xung quanh chủ đề chính, tạo cho sự tập trung vào chủ đề chính của người xem một cách tự nhiên sao cho người ta sẽ tập trung vào chủ đề chính mặc dù có khung cảnh xung quanh. Khung cảnh xung quanh không những không làm phân tán sự tập trung của của người xem vào chủ đề chính còn tôn thêm ý tưởng của người chụp vào chủ đề chính. Việc thể hiện khung cảnh xung quanh cũng còn tuỳ thuộc rất nhiều vào “gu” và mục đích của người chụp, quy tắc này hoàn toàn có thể phá bỏ, cũng có thể là khi chụp cũng có thể là khi sử lý ảnh hậu kỳ nhằm nói lên ý tưởng của tác giả. Ví dụ: lựa chọn độ nét và góc chụp để thể hiện con cá đang rời khỏi hốc đá của nó.

Không quá nhiều chủ đề trong một bức ảnh, một bức ảnh có quá nhiều chủ đề có nghĩa là bức ảnh không có chủ đề. Bức ảnh cần phải lưu lại cho người xem về một chủ đề hay một đối tượng. Ví dụ tránh chụp một đám cá khác nhau trừ khi bạn muốn thể hiện sự đa dạng của những loài cá.

Định hướng đối tượng: Tìm một góc chụp làm nổi bật đối tượng, ví dụ: tìm một qóc mang lại độ tương phản tốt như vị trí chụp là một mô đất nằm phía trên hang đá của nó, tránh chụp phía sau của một con cá đang chạy trốn.

Đàn cá nhỏ tránh nắng dưới bóng 1 con thuyền

Đặt đối tượng trong bối cảnh của nó, chọn thời điểm khi các diễn viên phụ xuất hiện tạo ấn tượng về hoàn cảnh của bức ảnh.

Lấy khung hình:

Sau khi chọn đối tượng và chủ đề, lựa chọn các cài đặt của bạn (độ nhạy, tốc độ, độ phơi sáng hoặc tự động ở chế độ chụp cảnh), lựa chọn góc chụp bạn phải chú ý đến khung hình.

Tránh cắt bỏ chủ thể khỏi khung hình bằng một chút bất cẩn hoặc để chủ đề quá lệch khỏi trung tâm của khung hình.

Nếu ý định của bạn là chỉ tập trung vào đối tượng thì có thể đặt đối tượng vào giữa khung hình, lưu ý tới quy tắc 1/3. Ngược lại nếu muốn thể hiện đối tượng trong ngữ cảnh của nó, thì đối tượng không nhất thiết phải ở trung tâm của khung hình. Bạn có thể sử dụng chức năng thu phóng để tinh chỉnh khung hình.

Tuy nhiên việc tinh chỉnh khung hình hoàn toàn có thể thực hiện ở giai đoạn hậu kỳ.

Lấy nét

Định vị các điểm lấy nét tự động (AF) trên đối tượng. Nhấn nửa chừng nút chụp. Tự động lấy nét bắt đầu hoạt động có thể được thực hiện trong thời gian khác nhau. Chỉ báo AF thường màu xanh lá cây sáng lên nếu lấy nét tự động thành công, đèn báo AF nhấp nháy hoặc chuyển sang đỏ nếu lấy nét tự động không thành công.

Bấm máy

Nhấn hoàn toàn nút chụp, nhẹ nhàng để tránh rung máy. Sau một thời gian trễ cần thiết để dữ liệu được truyền từ cảm biến sang bộ nhớ, máy ảnh lại sẵng sàng được sử dụng.

Kiểm tra hình ảnh đã chụp

Thông thường, hình ảnh được hiển thị tự động trong vài giây. Bạn cũng có thể đặt thiết bị ở chế độ xem ảnh. Điều này cho phép bạn xem qua các lỗi về khung hình, các lỗi lớn về độ phơi sáng nhưng không đánh giá chính xác được độ sắc nét.

Quản lý ánh sáng

Quản lý ánh sáng là điều cần thiết để có một bức ảnh thành công. Có một số chú ý sau:

Lặn khi mặt trời lên đỉnh hoặc gần lên đỉnh.

Ảnh chụp cách mặt nước từ 3 đến 4m có thể hài lòng với ánh sáng tự nhiên.

Đến gần đối tượng cần chụp dưới 120cm. Điều này không phải lúc nào cũng thực hiện được.

Chụp khi quay lưng về phía mặt trời.

Sử dụng ánh sáng nhân tạo như đèn flash, đèn pha, ….

Điều chỉnh thiết bị cho phù hợp với nguồn ánh sáng.

Sử dụng đèn flash của máy

Đèn flash bên trong máy kém hiệu quả hơn so với chụp ảnh trên cạn do sự hấp thụ ánh sáng của nước đặc biệt là với màu đỏ và sự hiện diện của các hạt huyền phù trong nước.

Tác dụng của đèn flash bên trong của máy chỉ có tác dụng khi đối tượng chụp trong khoảng 1m, đôi khi các lỗi về sự xuất hiện các hạt huyền phù còn tác hại hơn cả lợi thế mà đèn flash trong đem lại.

Rất hữu ích khi chụp macro (chụp gần).

Các đèn flash tích hợp (bên trong máy) được căn chỉnh với trục quang học của ống kính. Các hạt huyền phù sẽ sáng lên như những bông tuyết trong ánh sáng đèn pha ô tô.

Bộ khuếch tán (một tấm nhựa trong mờ) làm giảm được hiện tượng này, nhưng cũng chỉ là làm giảm.

Bạn phải biết cách tắt đèn flash và tắt khi cái lợi mà nó đem lại nhỏ hơn những lỗi mà nó gây ra.

Đèn flash bên trong cần phải có thời gian sạc lại giữa hai lần chụp liên tiếp.

Flash auto: đèn flash tự động bật khi ánh sáng bên ngoài yếu.

Flash éteint: đây là chức năng tắt đèn flash, nó sẽ không bao giờ hoạt động dù ánh sáng yếu.

Flash forcé: nó luôn luôn bật trong mọi trường hợp (lưu ý là giữa hai lần chụp phải có khoảng thời gian để cho đèn sạc lại).

Sử dụng nguồn sáng bên ngoài

Nguồn sáng bên ngoài có thể là đèn pha hoặc đèn flash ngoài. Nó có thể được gắn trên giá đỡ của máy ảnh hoặc được người chụp hoặc đồng đội của anh ta cầm ở tay. Nguồn sáng ngoài dựa vào các góc chiếu khác nhau sẽ làm giảm ảnh hưởng của các hạt.

Vùng ánh sáng giao thoa có thể tăng lên tác dụng của các hạt

Đèn pha:

Dễ sử dụng hơn, bức ảnh chụp giống với quan sát bằng mắt hơn.

Công suất không bằng đèn flash.

Mỗi loại đèn (halogen, HID, LED) thích hợp với một cách điều chỉnh cân bằng trắng riêng.

Đèn pha có chùm ánh sáng rộng được ưa thích hơn.

Đèn flash:

Có công suất lớn hơn đèn pha nhưng sử dụng và điều chỉnh lượng ánh sáng đòi hỏi phải có kinh nghiệm.

Chụp macro – chụp cận cảnh

Chụp cận cảnh đối tượng gọi là chụp macro. Trong hầu hết các trường hợp, bạn có thể dễ dàng chụp cận cảnh dưới nước. Khoảng cách tương đối ngắn giữa đối tượng chụp và chủ thể có nghĩa là màu sắc sẽ phong phú hơn, và sẽ có ít hạt nổi trong nước hơn ảnh hưởng đến độ trong của ảnh. Việc sử dụng đèn flash sẽ bảo đảm mức độ phơi sáng và tái tạo màu sắc chính xác. Chụp macro là một lựa chọn tốt trong điều kiện thời tiết xấu.

Chụp macro (chụp cận cảnh)

Sử dụng đúng chế độ cận cảnh trên thiết bị của bạn. Nhiều máy ảnh có chế độ chụp cận cảnh đặc biệt, một số thậm chí có chế độ chụp cận cảnh dưới nước. Chế độ chụp cận cảnh thường được biểu tượng bằng hình ảnh:

Lưu ý đến khoảng cách tối thiểu đến tiêu cự của bạn và đừng tiến gần hơn khoảng cách này, nếu không bạn sẽ nhận được kết quả là bức ảnh mờ. Ở chế độ thủ công, mở khẩu độ ống kính càng xa càng tốt (nếu thiết bị của bạn có chế độ thủ công), ví dụ f5.6 để ảnh có độ sâu lớn hơn.

Đối với các đối tượng chuyển động tốt nhất là sử dụng chế độ lấy nét tự động liên tục hoặc tăng tốc độ chụp. Bạn sẽ nhận được sự đồng bộ giữa sự sắc nét, độ sâu và độ sáng.

Bảo trì hộp đựng máy ảnh

Muối biển và clo trong các bể bơi có tính ăn mòn. Rửa sạch hộp máy ảnh (hộp chống nước) bằng cách ngâm chúng vào nước sạch, tưới nước sạch lên là không đủ trung hoà hết muối và clo. Vận hành các nút điều khiển khác nhau trên hộp để đẩy ra hết nước biển hoặc nước hồ bơi.

Chỉ tưới nước sạch lên là chưa đủ

Lau khô hộp bằng vải coton khô và mịn (không có các sợi thô) sau đó để khô trong không khí, mở nắp hộp chống nước và quay lên trên để tránh đọng hơi nước.

Trong thời gian không sử dụng nên mở nắp để tránh cho các joan caosu không bị ép lâu (có thể biến dạng) không còn tác dụng chống thấm nước nữa.

Bôi trơn nhẹ joan caosu bằng mỡ silicon do nhà sản xuất cung cấp. Mỡ không có tác dụng làm kín nhưng làm joan dễ dàng lọt vào đúng vị trí. Quá nhiều mỡ sẽ thu hút bụi và bám bụi, rất nhiều bụi mà bạn không nhìn được bằng mắt thường, điều này sẽ làm hỏng sự kín nước.

Đặt hộp và máy ảnh trong hộp cứng chuyên dụng để bảo vệ thiết bị khỏi những va chạm khi vận chuyển mà các thiết bị lặn rất hay gặp phải.

Thay đổi joan hai năm một lần.

Sử dụng ảnh

Các ảnh hiện nay trước khi sử dụng thường được chỉnh sửa lại, có 3 chế độ chỉnh sửa thường được sử dụng:

Cân chỉnh lại khung hình bao gồm:

Cân lại khung hình cho ngay ngắn, do chụp dưới nước nên ít khi bạn cân chỉnh được cho khung hình ngay ngắn như ý muốn. Bạn phải dùng các phần mềm chỉnh sửa ảnh để xoay chúng.

Cắt bỏ những phần không mong muốn, có thể phóng to, thu nhỏ và định vị lại đối tượng chính trong khung hình.

Cân bằng lại màu, bạn có thể bù lại các màu đã bị nhạt đi (nhất là màu đỏ), bạn cũng có thể tăng thêm độ sáng tối của bức hình.

Xoá bớt các “vết bẩn” trên hình như các hạt huyền phù, các đối tượng mà bạn muốn loại bỏ khỏi bức ảnh. Làm được đến đâu còn tuỳ thuộc vào trình độ và óc thẩm mỹ của bạn.

Xem thêm bài: Chỉnh sửa ảnh hậu kỳ