Muốn lặn được lâu thì tất nhiên là phải nhịn thở được lâu. Trước khi viết các bài về luyện tập nhịn thở và tiếp theo là các bài về luyện tập lặn, tôi muốn giới thiệu qua về nhịn thở. Những kiến thức sinh lý liên quan, các yếu tố ảnh hưởng, các phương pháp luyện tập kéo dài thời gian nhịn thở. Có 3 yếu tố chính liên quan tới kéo dài thời gian nhịn thở: yếu tố cơ học, yếu tố hoá học và yếu tố tâm lý.

Trước khi giới thiệu về nhịn thở tôi xin có một chút giải thích về sự khác nhau trong việc luyện tập nhịn thở đối với các môn thể thao khác nhau. Có rất nhiều môn thể thao cần luyện tập nhịn thở, các môn thể thao dưới nước đặc biệt các môn về lặn, Yoga, thiền, khí công v.v. Nhưng mục đích họ sử dụng nhịn thở hơi khác nhau nên phương pháp luyện tập cũng có khác nhau, xin có một chút ví dụ: Yoga luyện tập nhịn thở để sử dụng trong những hoạt động gần như tĩnh (họ thường ngồi, hoặc trong một tư thế không cử động), lặn bắn cá vừa nhịn thở vừa bơi vì vậy Yoga luyện tập nhị thở cho trạng thái tĩnh, lặn bắn cá luyện tập nhịn thở cho trạng thái cả tĩnh lẫn động. Một ví dụ nhỏ khác so sánh giữa lặn tự do (freediving) và lặn bắn cá , mặc dù người ta có thể coi lặn bắn cá là một môn thể thao nằm trong môn thể thao lặn tự do nhưng thực sự nó cũng có khác nhau. Với lặn tự do, người ta chỉ cần xuống thật sâu, nhịn thở thật lâu vì vậy cách luyện tập chỉ cần hít vào thật nhiều là đủ. Với lặn bắn cá, ngoài việc hít vào thật nhiều còn phải tập nhịn thở với phổi rỗng do yêu cầu của môn thể thao này. Chính vì vậy các bài tập về nhịn thở của lặn bắn cá sẽ có khá nhiều điểm khác với các môn thể thao khác, ví dụ: lặn bắn cá không cần lặn quá sâu cũng không cần quá lâu nhưng đòi hỏi trong lúc lặn (nhịn thở) phải có năng lực hoạt hoạt động tốt, phải phục hồi thể lực nhanh để có thể lặn liên tiếp, có thể lặn với phổi rỗng. Người ta nói, luyện tập nhịn thở để lặn bắn cá giống với luyện tập nhịn thở cho khúc côn cầu dưới nước hay lặn nghệ thuật.

Yếu tố cơ học

Đây là yếu tố liên quan đến cơ thể của mỗi người và tình trạng sức khoẻ, để có thể nhịn thở được lâu trước hết bạn phải hít được vào càng nhiều càng tốt, để hít được nhiều thì trước hết sức chứa của phổi của bạn phải lớn, sau đó là phương pháp hít vào và phương pháp giữ hơi trong quá trình nhịn thở.

Tăng dung tích phổi

Dung tích của phổi

Bạn chú ý: dung tích của phổi và thể tích của phổi có khác nhau, thể tích có thể nói là toàn bộ kích thước phổi bao gồm không khí chứa trong đó (chính là dung tích) và phần thịt, mạch máu, các mô xốp tạo nên phổi. Thể tích của phổi có tăng lên được không? xin trả lời là đối với người trưởng thành (20 tuổi) là không thể, khi đó khung lồng ngực đã ổn định thể tích phổi không thể tăng lên được cũng như bạn không thể cao lên được. Vậy dung tích của phổi có tăng lên được không? Xin trả lời là có thể. Trước khi viết về các cách tăng dung tích của phổi tôi xin giải thích một chút về dung tích của phổi theo hình vẽ thuyết minh. Dung tích của phổi bao gồm:

VR: dung tích của phổi còn lại sau khi ta thở ra hết sức, bởi vì phổi là rỗng cho nên ép thế nào cũng không ra hết được không khí ở trong đó, nó luôn còn lại khoảng 1,2 lít (tuỳ theo người). Nếu chỉ dùng phương pháp thở bình thường người ta khó mà làm giảm được dung tích này. Nhưng có một phương pháp gọi là kỹ thuật cá chép ngược (xem thêm bài: Kỹ thuật cá chép) có thể đẩy bớt đám không khí tồn này ra (nhưng không bao giờ hết được). VR còn được gọi là khí cặn.

VRE: là dung tích giảm xuống khi thở ra hết sức, so với thở ra bình thường. Ví dụ: khi bạn hít vào bình thường phổi của bạn chứa 3 lít không khí, bạn thở ra bình thường (0,5 lít), phổi của bạn còn lại 2,5 lít. Nhưng nếu bạn thở ra hết sức (1,7 lít) phổi của bạn chỉ còn 1,3 lít, vậy dung tích giảm đi VRE = 1,7 – 0,5 =1,2 lít. Muốn tăng lên dung tích này chỉ có cách giảm VR, tức là thở ra sâu hơn. VRE còn được gọi là khí dự trữ vì nó luôn tồn tại trong phổi khi bạn hô hấp bình thường.

VC: là dung tích phổi thay đổi khi bạn hô hấp bình thường, như ví dụ trên: bạn thở ra là 0,5 lít hít vào cũng 0,5 lít.

VRI: là dung tích cần chú ý nhất, so với bình thường bạn hít vào thêm được bao nhiêu nếu bạn cố hết sức đó là VRI nó còn được gọi là không khí bổ xung. Các bài tập hít thở, căng cơ chủ yếu nhằm mục đích tăng dung tích này. Trung bình nam là 3 lít, nữ là 2 lít, nhưng thực tế khác nhau khá nhiều, người có thể hình khác nhau thì khác nhau. Với cùng một người theo từng thời điểm, tình trạng khác nhau cũng khác nhau. Người có luyện tập và không luyện tập cũng khác nhau.

Phế dung kế dùng để đo dung tích phổi và luyện thở.

Để có thể kiểm soát được các dung tích của mình là bao nhiêu bạn có thể dùng phế dung kế.

Tăng dung tích của phổi chính là tăng CV (dung tích hoạt động của phổi), trước hết người ta có thể tăng lên VRI là khả năng hít vào thêm. Để có thể hít vào thêm người ta phải rèn luyện khả năng co dãn của các cơ có liên quan đến quá trình hít thở như cơ hoành, cơ liên xườn. Khi hít vào càng nhiều, các cơ căng ra, các biểu mô trong phổi cũng căng lên sẽ gây nên phản xạ kích thích ho, sặc, co giật, người ta phải luỵện tập để làm quen và khống chế được các phản xạ này. Thứ hai là làm giảm VR, ngoài sử dụng kỹ thuật cá chép ngược ra, rèn luyện cơ hoành, cơ bụng các cơ có liên quan tới quá trình thở ra cũng có tác dụng.

Lưu ý: dung tích phổi sẽ thay đổi khá nhiều theo tuổi tác. Thậm trí đến năm 35 tuổi dung tích của phổi bắt đầu giảm, đến năm 50 tuổi nó có thể giảm tới 50% do các nguyên nhân: lồng ngực bị co lại, các mô bị xơ cứng kém đàn hồi v.v.

Căng các cơ hô hấp.

Các cơ chính liên quan đến hô hấp

Các cơ chính liên quan tới quá trình hít vào:

Cơ hoành là cơ quan trọng nhất, nó là một cơ hình vòm được lồng vào các xương sườn, ngăn cách lồng ngực và ổ bụng. Khi cơ hoành co lại , các cơ quan trọng bụng bị đẩy xuống dưới và ra phía trước. Kích thước của lồng ngực tăng lên từ mọi phía.

Các cơ liên sườn ngoài nối giữa hai xương sườn nằm cạnh nhau, khi chúng co lại các xương sườn bị kéo lên làm tăng đường kính của lồng ngực.

Hai cơ bậc thang nâng hai xương sườn đầu và cơ nâng xương ức lên, tham gia chủ yếu khi hít sâu.

Các cơ chính liên quan đến quá trình thở ra:

Chủ yếu nhất là các cơ bụng: cơ thẳng bụng, cơ chéo trong, cơ chéo ngoài, cơ bụng ngang. Khi các cơ này co, áp lực ổ bụng tăng, cơ hoành bị đẩy lên.

Các cơ liên sườn trong khi co lại kéo xương sườn xuống dưới và vào trong vì vậy giảm thể tích lồng ngực.

Khả năng nhịn thở ngoài việc căng cơ để hít vào nhiều nhất, để thở ra nhiều nhất còn phụ thuộc vào tình trạng co giật của các cơ trong giai đoạn cuối (nhất là với cơ hoành). Quá trình luyện tập sẽ giúp bạn hạn chế, “sống chung” với các cơn co giật này.

Các cơ quan ở họng

Các cơ quan của họng có ảng hưởng tới nhịn thở

Ngoài phổi là nơi chứa không khí nhiều nhất khi nhịn thở, các khoang trống của họng cũng có chứa không khí tuy không nhiều, nó còn là cửa ngõ thông ra ngoài nên nó còn có nhiều chức năng khác rất quan trọng. Dùng để chứa khí dùng cho cân bằng áp cho các phương pháp cân bằng áp chủ động, các cơ ở cổ, hàm, vai tham gia đóng mở các van và tham gia vào quá trình cân bằng áp chủ động cũng như thụ động. Các khoang chứa này và hệ cơ cũng làm nhiệm vụ chính khi thực hiện kỹ thuật cá chép. Khoang miệng và khoang mũi còn tham gia vào động tác thở giả. Các khoang chứa khí ở họng có thể kể ra như sau:

Khoang mũi: thường không bao giờ rỗng (không có không khí) khi lặn nó thông với không gian phía trong của kính lặn (xem thêm bài: Kính lặn). Lượng không khí này rất quan trọng dùng để cân bằng áp khi lặn. Khi vòm miệng mềm đóng lên phía trên thì nó độc lập với các khoang khác.

Khoang miệng: là khoảng không gian trong vòm miệng được giới hạn từ vòm miệng mềm khi đóng tới môi nếu bạn ngậm miệng, tới ống thở nếu bạn ngậm ống thở. Nếu vòm miệng mềm đóng xuống phía dưới, khoang miệng sẽ độc lập với các khoang khác. Khoang miệng có thể có đầy không khí như khi: bạn thực hiện ép khí của kỹ thuật cá chép, như khi bạn thực hiện thở giả, nó cũng có thể rỗng, có thể chỉ có một phần (như khi khoá lưỡi K, H), và có thể là chân không khi bạn thực hiện kỹ thuật cá chép ngược để rút không khí từ phổi lên.

Khoang vòm họng và khoang họng miệng đối với lặn bắn cá không cần xét đến, trong y học người ta phân ra để xác định vị trí của bệnh tật, còn chúng ta thì không cần. Nếu vòm miệng mềm đóng lên trên và nắp thanh quản đóng thì hai khoang này nối thông với khoang miệng thành một khoang độc lập. Nếu vòm miệng mềm đóng xuống dưới thì chúng thông với khoang mũi. Nếu vòm miệng mềm nằm ở vị trí giữa và nắp thanh quản đóng thì các khoang mũi, miệng, vòm họng, họng miệng thông với nhau.

Khí quản: có thể tính là từ phía sau nắp thanh quản, khi nắp thanh quản đóng nó chỉ thông với phổi. Trong khí quản cũng chứa khá nhiêù không khí, người ta thực hiện kỹ thuật thở giả trong khi nhịn thở nhằm đưa không khí ở khí quản lưu chuyển lên mồm rồi lại hít xuống phổi, nhằm tận dụng hết ôxy trong lượng không khí này và đánh lừa cảm giác thôi thúc thở của cơ thể (xem thêm bài: Các bài tập thở).

Có một loạt các cơ ở quanh vùng cổ, miệng, vai đều tham gia tích cực vào quá trình nhịn thở và quá trình lặn. Với nhiều môn thể thao khác việc luyện tập các cơ này không quan trọng, nhưng với lặn bắn cá thì nó rất quan trọng nhất là cho quá trình cân bằng áp. Các cơ này thường hoạt động liên hệ với nhau một cách rất tinh tế, tôi cũng không phải là bác sỹ nên chẳng biết giải thích thế nào nên chỉ giới thiệu cho nó có. Khi vào các bài tập cụ thể tự nhiên các bạn sẽ dùng đến nó, chỉ nhắc nhở các bạn một chút là các cơ này hơi mỏng manh khi tập không nên quá sức.

Cũng xin lỗi các bạn vì viết hơi dài dòng, nhưng trong quá trình luyện tập tôi thấy cuối cùng tôi thấy vẫn phải tìm hiểu các vấn đề này. Ví dụ khi luyện tập cân bằng áp, luyện các bài hít thở bạn phải đóng khoang này, mở khoang kia, đẩy hơi từ khoang này sang khoang kia, nếu bạn không biết thì không thể thực hiện được. Trước đây tôi đã đọc khá nhiều tài liệu, mò mẫm làm thử nhưng rất khó, khi tham gia câu lạc bộ được hướng dẫn mới có thể thực hiện được. Tài liệu và sự hướng dẫn tỉ mỉ của huấn luyện viên khác nhau rất xa. Tôi không hy vọng rằng các bài viết của mình chi tiết bằng sự hướng dẫn của huấn luyện viên nhưng hy vọng rằng nó sẽ giúp các bạn nhiều hơn trong quá trình luyện tập. Nếu bạn nào thấy đoạn nào rườm rà quá có thể bỏ qua hoặc yêu cầu tôi viết lại.

Các cơ quan khoá đường hô hấp

Các cơ quan đóng mở đường hô hấp

Một yếu tố cơ học khác cũng đặc biệt quan trọng đối với vấn đề nhịn thở đó là các cơ quan đóng mở đường hô hấp. Bạn cứ hình dung phổi của chúng ta như quả bóng, kích thước càng lớn càng chứa được nhiều không khí, vỏ bóng càng dẻo càng dai càng bơm được căng, nhưng nếu cái van không tốt thì cũng vứt đi. Khác với các môn thể thao khác, khi nhịn thở lặn bắn cá phải sử dụng rất nhiều đến các cơ quan đóng mở đường hô hấp để thực hiện cân bằng áp (xem thêm bài: Phương pháp cân bằng áp Frenzel), để giảm bớt không khí trong phổi (xem thêm bài: Các bài tập lặn). Có các cơ quan đóng mở đường hô hấp liên quan đến nhịn thở sau:

Miệng: bạn có thể thực hiện ngưng thở bằng miệng nếu bỏ ống thở ra, ngưng thở bằng miệng có nhiều tác dụng. Khi lặn bạn có thể thực hiện động tác thở giả nếu bạn thích hợp với động tác này. Khi luyện tập, và trong thực tế bạn có thể thực hiện được kỹ thuật cá chép.

Lưỡi: nếu bạn không thực hiện được tốt kỹ thuật khoá lưỡi (Xem bài: Kỹ thuật cân bằng áp Frenzel) bạn sẽ không thực hiện được cân bằng áp Frenzel. Khi lặn và ngậm ống thở thực chất là bạn cũng thực hiện khoá lưỡi nhưng là khoá bằng phần cuối (khoá H), bạn phải luyện tập thêm khoá lưỡi bằng đầu và đoạn giữa (khoá T và khoá K). Khoá lưỡi cũng dùng cho kỹ thuật cá chép (cả thuận lẫn nghịch) và thở giả.

Vòm miệng mềm: dĩ nhiên là quan trọng nó ngăn bạn không bị lọt hơi lên kính lặn, nhưng nó lại mở ra chính xác khi bạn cân bằng áp, nó kết hợp với lưỡi khi bạn thực hiện cân bằng áp BTV.

Nắp thanh quản: Cực kỳ quan trọng, đây thường là cái van chính để nhốt không khí trong phổi của bạn. Phần lớn trong thời gian nhịn thở bạn phải khoá chặt cái van này, nhưng khi cần mở để bơm thêm khí lên khoang miệng thực hiện cân bằng áp hoặc thở giả nó phải được mở một cách chính xác.

Tất cả các bài luyện tập cho phần cơ đều liên quan tới 4 hệ thống cơ quan này, có bài trú trọng hơn về cơ quan này, có bài trú trọng hơn về cơ quan khác, cũng có bài là tổng hợp của cả 4. Có thể giới thiệu mấy bài chính như:

Bài luyện tập hít thở (các bài về hít thở, căng cơ, luyện tập bằng oxymetre)

Kỹ thuật cá chép.

Các bài tập dụng cụ, chơi thể thao đều có tác dụng tốt với tăng dung tích của phổi nhưng tôi không giới thiệu trong trang này.

Yếu tố hoá học

Những yếu tố hoá học ảnh hưởng tới hô hấp

Các phản ứng hoá học xảy ra trong quá trình hô hấp là một kiến thức rất cơ bản: hít không khí vào phổi, trong phổi ôxy được hấp thu vào máu đồng thời khí CO2 được thẩm thấu ra sau đó được thổi ra ngoài khi ta thở ra. Tốc độ CO2 được hấp thu và CO2 thải ra phụ thuộc: hàm lượng O2 và CO2 trong không khí được hít vào, PaO2 và PaCO2 là áp suất của O2 và CO2 trong máu (được đo bằng mmhg – milimet thuỷ ngân) áp suất càng cao tốc độ thẩm thấu càng nhanh, tất nhiên là còn phụ thuộc vào khả năng đồng hoá của mỗi người.

Các tế bào trong cơ thể (nhất là các tế bào cơ bắp và thần kinh) cần có O2 (và chất dinh dưỡng) để hoạt động, đồng thời chúng thải ra CO2 và các chất thải khác, tốc độ tiêu thụ O2 và thải ra CO2 phụ thuộc vào năng lượng mà nó sản sinh ra. O2 cung cấp cho nó lấy từ máu, và CO2 nó cũng thải ra máu.

Vì những giải thích trên: trong quá trình nhịn thở O2 trong máu giảm, CO2 trong máu tăng, tốc độ tăng giảm phụ thuộc vào tốc độ năng lượng các tế bào phải cung cấp (vào mức độ duy trì hoạt động của cơ thể). Nếu CO2 trong máu tăng lên đến một ngưỡng nào đó, phản xạ cơ thể sẽ thúc dục bạn phải thở, nếu O2 xuống thấp đến một mức nào đó các tế bào thần kinh sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên, bạn sẽ bị mất kiểm soát các hành động hoặc bị ngất (xem thêm bài: Kỹ thuật tăng thông khí). Trên hình minh hoạ có chi tiết chú thích về ni-tơ, đây không phải tăng, giảm lượng ni-tơ trong máu mà là tăng, giảm thể tích ni-tơ khi lặn xuống và khi nổi lên, người ta quan tâm nhiều đến thể tích này vì tỷ lệ ni-tơ trong không khí là cao nhất (khoảng 80%), khi thể tích giãn nở quá nhanh rất có thể gây ra chấn thương, nhất là khi nổi lên.

Khi nhịn thở người ta đưa ra hai khái niệm chính, các bài tập liên quan tới các yếu tố hoá học thường xoay quanh hai vấn đề này: quá (nhiều) CO2 (Hypercapnie) và thiếu O2 (Hypoxie) vì vậy các bài tập này thường lấy hai vấn đề này là tên.

Các bài tập khô chủ yếu là các bài tập bảng nhằm rèn luyện khả năng chịu đựng và thích nghi của cơ thể với tình trạng quá CO2 và thiếu O2. Các bài tập ướt cũng vậy, thêm vào đó là kiểm soát và thuần thục các động tác kỹ thuật được giới thiệu trong các bài tập lặn (xem thêm bài: Kỹ thuật sử dụng chân nhái và Các bài tập lặn).

Yếu tố tâm lý

Theo tôi thì làm cái gì yếu tố tâm lý cũng rất quan trọng, nếu bạn làm một việc gì khó mà bạn quá căng thẳng chắc chắn là không hiệu quả, bạn chơi môn thể thao mà bạn không đam mê thì bạn cũng sẽ bỏ nửa chừng. Nhịn thở cũng vậy, nếu bạn căng thẳng các tế bào của bạn sẽ xuất ra năng lượng nhiều hơn, bạn cần nhiều O2 hơn có nghĩa là thời gian nhịn thở của bạn ngắn lại. Nhưng nói về tâm lý rất khó, rèn luyện nó thì càng khó hơn, và phương pháp thì “không biết nói thế nào”. Vì cũng không có bài nào riêng về rèn luyện tâm lý nên trong bài này tôi xin giới thiệu luôn hai khái niệm “nội thị” và “xuất thần”, nghe có vẻ “chưởng” nhưng các bạn cũng đừng lạ, chưởng vốn xuất phát từ thực tế mà.

Kỹ thuật nội thị

Dùng kỹ thuật nội thị trong khí công và Yoga

Nói nội thị nghe cho nó oai chứ nội thị không phải như trong các truyện tiên hiệp bạn có thể chui vào trong cơ thể của chính mình xem có “linh hồn” nào tá túc không. Rất đơn giản ngay từ khi bé tí bạn đã luyện tập những bài nội thị đầu tiên, ví dụ: bạn kêu đau, mẹ bạn hỏi “đau ở đâu” bạn chỉ vào bụng, có lần tôi đọc ở đâu đó người ta viết rằng trẻ con bao giờ kêu đau cũng chỉ vào bụng trước tiên. Mẹ bạn tiếp tục hỏi “nghĩ kỹ xem đau ở đâu” và bạn “làm cái gì đó” sau đó mới biết là mình đau ở ngực chứ không phải ở bụng. Cái “làm cái gì đó” chính là nội thị. Giải thích cho văn vẻ hơn đó là dùng cảm giác để kiểm soát tình trạng cơ thể của chính mình. Sau khi lớn lên bạn luôn luôn thực hiện nội thị, khi đi khám bệnh bác sỹ hỏi và bạn trả lời về tình trạng của mình, cao hơn nữa nếu bạn học võ thuật sau mỗi trận đấu sư phụ thường bắt bạn phải ngồi thiền, dùng hơi thở đưa cảm giác đi khắp toàn thân, nhất là các chỗ trúng đòn để xem có bị tổn thương không. Các môn Yoga, Thiền, Khí công đều có các vòng tuần hoàn trong cơ thể, nhằm hướng dẫn bạn đưa cảm giác của mình chạy theo các vòng tuần hoàn đó. Khi thực hiện di chuyển cảm giác người ta thường kết hợp với hơi thở và có thể vận động các cơ, và thực hiện các tư thế để cảm giác được tập trung hơn (thực tế hơi thở chỉ có thể vào phổi rồi ra chẳng thể nào đi đến các bộ vị khác được). Vậy đưa luồng cảm giác đi theo các vòng tuần hoàn có tác dụng gì, nó có dính dáng gì đến nội thị, có dính dáng gì đến đến nhịn thở, có dính dáng gì đến lặn bắn cá.

Trước hết có một số lý luận như sau: có các cách gì tác động đến các tế bào hay trực tiếp hơn là đến các hoạt động sinh lý, ví dụ: làm sao tiết ra mồ hôi, vận động các cơ bắp làm việc sinh ra năng lượng ……. sinh ra mồ hôi, nhiệt độ bên ngoài nóng, các cơ quan xúc giác gửi tín hiệu ……. sinh ra mồ hôi, căng thẳng các trung ương thần kinh trực tiếp tác động đến tuyến mồ hôi. Nhưng các tín hiệu điều khiển các cơ quan trong cơ thể dù nguyên nhân đến từ các cơ quan khác như cơ bắp, xúc giác, khứu giác, v.v. đều thông qua trung ương thần kinh xử lý và gửi đi.

Vậy, một câu hỏi được đặt ra người ta có thể điều khiển, kiểm soát, kích thích các cơ quan làm việc mà không cần đến các tác động bên ngoài hoặc hoạt động các cơ quan khác để tạo ra những tín hiệu tương ứng được hay không? ví dụ: người ta có thể làm tim đập nhanh hơn mà không cần xem phim ma, không cần nắm tay bạn gái, không cần chạy 100m được không? xin trả lời là có, ít nhất 2 phương pháp, một là phương pháp hơi tiêu cực người ta còn gọi là “mặc cảm tự thị” hay còn gọi là tự thôi miên, hãy tưởng tượng hay nhớ lại một cảnh tượng khủng khiếp nào đó sẽ kích thích bạn tim đập nhanh. Phương pháp khác hãy tập trung cảm giác của mình vào tim và cố điều khiển nó, rất khó luyện nhưng nếu luyện được bạn sẽ khống chế được nhịp đập của tim.

Lợi dụng sự di chuyển của cảm giác để chủ động vận động các cơ quan trong cơ thể, đó chính là sự luyện tập, đặc biệt các cơ quan về hệ tuần hoàn, hô hấp. Hệ tuần hoàn thường rất khó luyện tập, bình thường khi bạn vận động mạnh nó hoạt động rất mạnh nhưng không đều, nó tập trung vào các bộ phận cần bù đắp năng lượng trong khi những chỗ khác có thể thiếu (nhất là O2), tác dụng của nó chủ yếu lại là bù đắp năng lượng chứ không phải là tái tạo hay bồi bổ cho tế bào. Khi bạn luyện tập di chuyển cảm giác theo các vòng tuần hoàn là bạn đã kích thích các cơ quan, các tế bào trên đường tuần hoàn đó hoạt động, tự nó hoạt động mà không cần đến các tác nhân kích thích khác, nhất là với các cơ quan ít được vận động do nhiều nguyên nhân, do đó các cơ quan này được luyện tập. Việc kích thích này rất khó, đòi hỏi phải luyện tập công phu nhiều năm, nhưng việc luyện tập này rất có lợi, nó bồi bổ tế bào từ từ, giảm bớt sự huỷ hoại của tế bào do hoạt động quá mức, tiết kiệm năng lượng tối đa do không phải hoạt động các cơ quan khác để kích thích (như cơ bắp chẳng hạn). Để luyện tập được trước hết người ta phải luyện tập cách tập trung cao độ, hướng sự tập trung chú ý vào bên trong cơ thể sau đó là vào một cơ quan nào đó trong cơ thể sau đó là di chuyển sự chú ý đó theo một lộ tuyến nào đó, làm điều đó chính là nội thị. Nội thị có thể làm được gì, trước hết bạn rèn luyện được sự tập trung, tách mình ra khỏi thế giới bên ngoài, rèn luyện các cơ quan trong cơ thể, Yoga, Thiền đều luyện tập theo nguyên lý này. Còn để khai thác các năng lực tiềm ẩn trong cơ thể như các luân xa của Yoga thì quá xa với hiểu biết của tôi.

Với nhịn thở và lặn bắn cá, dùng kỹ thuật nội thị bạn biết được cơ quan nào trong người bạn đang vận động như cơ hoành hay cơ liên sườn, vòm miệng mềm nằm ở đâu có điều khiển được không, khống chế nhịp tim, thả lỏng các cơ quan không cần thiết, khống chế các phản ứng của cơ thể như co giật, chuột rút, ho, sặc, chủ động mở ống tai trong khi cân bằng áp (xem thêm bài: Phương pháp cân bằng áp BTV) v.v. rất nhiều các hoạt động mà bạn không thể kiểm soát và điều khiển bên ngoài được. Nếu bạn thường xuyên ngồi thiền đưa cảm giác đi khắp cơ thể bạn còn có thể sớm phát hiện ra những điểm bất thường trong cơ thể để kịp thời đi bác sỹ.

Trong nhịn thở, người ta có hai trường phái, ai đúng ai sai không có câu trả lời. Một là, “các cơn co giật ư, tôi không lo lắng, tôi nhìn vào nó và đồng hành với nó” đấy là cách vượt qua các cơn co giật của một dân lặn bắn cá trên forum, đó là anh ta dùng phương pháp nội thị nhìn thẳng vào cảm giác co giật, nghiền ngẫm cảm giác đó, chịu đựng, chế ngự và đồng hành với nó. Hai là, tôi “tôi nhớ lại thời thơ ấu, tôi quên nó đi những cơn co giật chết tiệt” một người khác bình luận, anh ta sử dụng phương pháp “xuất thần”.

Kỹ thuật xuất thần

Xuất thần

Như đã giải thích ở trên xuất thần nghĩa là quên cái cơ thể mình đi, chỉ còn cảm giác (trong trường hợp này có lẽ người ta gọi là “thần” hay “linh hồn”) các truyện tiên hiệp thường dựa vào các khái niệm mơ hồ này để đưa ra các câu chuyện như “Linh khống thiên hạ” chẳng hạn. Hì hì tôi theo chủ nghĩa duy vật nên không tin cái chuyện linh hồn xuất khiếu, mặc dù vậy thực tế cũng vẫn có những người đang khổ công tu luyện để mong có thể để linh hồn thoát ra khỏi xác phàm mà đi chu du.

Quay trở lại với kỹ thuật xuất thần của chúng ta, cũng như nội thị ai cũng đã đã từng xuất thần, không phải nằm mơ hay mộng du đâu nhé, đấy là cơ chế sinh lý khác (theo tôi là vậy), ví dụ bạn làm việc say xưa đến quên cả chân đã bị tê, bạn đang ngồi học bị ông thầy ném cho viên phấn vì tâm hồn không ở trong lớp. Lúc đó sự tập trung chú ý của bạn đã rời khỏi “bản thân”, bạn đã quên hoàn cảnh và quên cơ thể mình. Đối với luyện tập nhịn thở, luyện tập lặn và luyện tập lặn bắn cá kỹ thuật này khá quan trọng. Không phải ai cũng như ông bạn kia “sống chung với những cơn co giật” mà thường thường bạn càng chú ý đến nó thì nó lại càng đến nhanh hơn, đa số lựa chọn quên nó đi. Tất nhiên luyện để quên nó thực sự không hề dễ, hơn nữa nó phụ thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh. Luyện tập xuất thần là một trong những kỹ năng chính để luyện tập kỹ năng tự điều chỉnh (xem thêm bài: Các động tác kỹ thuật khác). Trong khi luyện tập nhịn thở bạn phải luôn phối hợp cả hai: vừa nội thị vừa xuất thần, nội thị để xem có cơ quan nào bị căng cứng một cách vô thức hay không, trong khi luyện tập giảm thông khí mình có bị rơi vào trạng thái thôi miên hay không (xem thêm bài: Luyện tập giảm thông khí). Xuất thần để: giảm hoạt động tối đa cho cơ thể (làm mềm cơ thể), trốn tránh và quên đi những phản xạ phải thở hoặc co giật của cơ thể. Tuy nhiên xuất thần trong luyện tập không có hoàn toàn giống như xuất thần vô ý thức, cũng có thể nói là xuất thần nửa vời hay bán xuất thần. Khi luyện tập bạn cố quên đi những cảm giác trong cơ thể nhưng bạn vẫn phải kiểm soát được hoàn cảnh bên ngoài nếu không rất có thể bị nguy hiểm. Người ta có thể luyện tập kỹ thuật xuất thần bằng nhiều cách, đơn giản đó là đếm, tập trung vào đếm vừa tính được thời gian vừa quên “mình”. Các phương pháp khác thường được sử dụng thông qua các khiếu như “thần phong nhĩ” tập trung thính lực để nghe một cái gì đó thật đơn điệu (không phải nghe chuyện, nghe nhạc đâu nhé) ví dụ nghe tiếng kim giây đồng hồ, nghe tiếng sóng biển nếu bạn ngồi thiền gần biển. Luyện bằng khứu giác nếu bạn nhạy cảm với mùi vị. Luyện bằng trí nhớ (tôi cũng không rõ nó là cái gì nữa đại khái thế này: (nếu bạn nào muốn luyện thần hồn xuất khiếu có thể bắt đều bằng bài tập này) bạn để một cái gì đó không quá phức tạp, ví dụ một cái ca uống nước có hoa văn đơn giản, cách bạn khoảng 3-4m, nhắm mắt lại cố gắng đưa mình vào trạng thái xuất thần tiến lại gần (thần của bạn tiến lại chứ không phải bạn đâu nhé) cố gắng nhìn nó, ghép hình ảnh mà bạn đã ghi nhớ về nó vào bản thân nó, nếu nghi hoặc thì mở mắt ra xác nhận lại, sau đó nhìn phía đằng sau nó, sau nữa để xa hơn, sau nữa thay cái hoa văn phức tạp hơn, sau đó để sau một tấm lụa mỏng, và cho tới khi bạn đến được gần nó khi nó ở một căn phòng khác là bạn đã luyện xong “tầng thứ nhất” . Còn chúng ta chỉ cần luyện đến thần ra khỏi người là được. Dân lặn bắn cá thì rất đơn giản, tập trung vào môi trường xung quanh, tìm cá và cảnh giác là bạn đã có thể quên được “bản thân”.